Thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương Mại

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, hiệu quả, được các bên tự nguyện lựa chọn thay vì đưa vụ việc ra Tòa án. Với tính bảo mật và tính chất chung thẩm, trọng tài thương mại ngày càng được ưa chuộng trong các giao dịch thương mại. Quy trình này được điều chỉnh chặt chẽ bởi Luật Trọng tài thương mại 2010, đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Bài viết dưới đây trình bày chi tiết các khía cạnh của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

1. Trọng tài thương mại là gì?

Trọng tài thương mại là một cơ chế giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên, giúp giải quyết mâu thuẫn một cách nhanh chóng và kín đáo. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“1. Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”

2. Điều kiện để áp dụng trọng tài thương mại

Yếu tố cốt lõi để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài giữa các bên. Các điều kiện cụ thể được nêu rõ tại Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài:

  1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
  2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
  3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”

3. Các tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại

Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết bằng trọng tài. Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, các tranh chấp thuộc thẩm quyền bao gồm:

  • Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp mà ít nhất một bên tham gia có hoạt động thương mại.
  • Các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.

Điều này đảm bảo rằng chỉ những tranh chấp phù hợp mới được đưa ra trọng tài, giúp tránh xung đột pháp lý không cần thiết.

4. Thỏa thuận trọng tài – Nền tảng của quy trình

Thỏa thuận trọng tài là cam kết của các bên để giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài, được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.”

Hình thức của thỏa thuận được quy định chi tiết tại Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 16. Hình thức thỏa thuận trọng tài

  1. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
  2. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
    a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
    b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
    c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
    d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
    đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”

Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, như:

  • Tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài.
  • Người xác lập thỏa thuận không có thẩm quyền hoặc không có năng lực hành vi dân sự.
  • Hình thức thỏa thuận không phù hợp với quy định pháp luật.
  • Một bên bị lừa dối, đe dọa, hoặc cưỡng ép khi xác lập thỏa thuận.
  • Thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật.

5. Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp

Quy trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được thiết kế chặt chẽ, đảm bảo tính công bằng và minh bạch, bao gồm các bước sau theo Luật Trọng tài thương mại 2010:

5.1. Khởi kiện và bắt đầu tố tụng (Điều 30, 31, 32)

  • Tại Trung tâm trọng tài: Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đến Trung tâm. Tố tụng bắt đầu khi Trung tâm nhận được đơn, trừ khi có thỏa thuận khác.
  • Trọng tài vụ việc: Nguyên đơn gửi đơn khởi kiện cho bị đơn. Tố tụng bắt đầu khi bị đơn nhận được đơn, trừ khi có thỏa thuận khác.

5.2. Bản tự bảo vệ của bị đơn (Điều 35)

  • Tại Trung tâm trọng tài: Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận đơn khởi kiện, bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ, trừ khi có quy định hoặc thỏa thuận khác.
  • Trọng tài vụ việc: Trong 30 ngày, bị đơn gửi bản tự bảo vệ và thông tin về trọng tài viên được chọn cho nguyên đơn và các trọng tài viên.

5.3. Thành lập Hội đồng trọng tài (Điều 40, 41)

Hội đồng trọng tài được thành lập theo quy tắc của Trung tâm hoặc thỏa thuận của các bên trong trường hợp trọng tài vụ việc, đảm bảo tính khách quan và độc lập.

5.4. Phiên họp giải quyết tranh chấp (Điều 54, 55, 56, 57)

  • Phiên họp diễn ra không công khai, trừ khi các bên thỏa thuận khác, nhằm bảo vệ tính riêng tư.
  • Trình tự phiên họp do quy tắc tố tụng của Trung tâm hoặc thỏa thuận của các bên quy định.
  • Vắng mặt của các bên:
    • Nếu nguyên đơn vắng mặt không có lý do chính đáng, được coi là rút đơn khởi kiện.
    • Nếu bị đơn vắng mặt, Hội đồng vẫn tiếp tục giải quyết.
    • Các bên có thể yêu cầu hoãn phiên họp với lý do chính đáng, thời hạn hoãn do Hội đồng quyết định.

5.5. Hòa giải (Điều 58)

Hội đồng trọng tài hỗ trợ hòa giải nếu các bên yêu cầu. Nếu hòa giải thành công, biên bản hòa giải được lập với chữ ký của các bên và xác nhận của trọng tài viên. Hội đồng sẽ ra quyết định công nhận thỏa thuận, có giá trị như phán quyết trọng tài.

5.6. Ra phán quyết trọng tài (Điều 60, 61, 62, 63)

  • Phán quyết được thông qua theo nguyên tắc đa số. Nếu không đạt đa số, ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài sẽ quyết định.
  • Phán quyết trọng tài là chung thẩm, có giá trị ràng buộc và không thể kháng cáo, trừ một số trường hợp đặc biệt theo luật định.

6. Thời hiệu khởi kiện

Thời hạn khởi kiện bằng trọng tài được quy định tại Điều 33 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 33. Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.”

7. Ngôn ngữ trong tố tụng

Ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài được xác định theo Điều 10 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 10. Ngôn ngữ
Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định.”

8. Địa điểm giải quyết tranh chấp

Địa điểm tiến hành trọng tài được xác định theo Điều 11 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 11. Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp không có thoả thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định. Địa điểm giải quyết tranh chấp có thể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến hành phiên họp tại địa điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến giữa các thành viên của Hội đồng trọng tài, việc lấy lời khai của người làm chứng, tham vấn ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng hoá, tài sản hoặc tài liệu khác.”

9. Mất quyền phản đối

Theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu một bên phát hiện vi phạm nhưng không phản đối trong thời hạn quy định mà vẫn tiếp tục tố tụng, bên đó sẽ mất quyền phản đối:
“Điều 13. Mất quyền phản đối
Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án.”

10. Luật áp dụng trong trọng tài

Việc xác định luật áp dụng là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính công bằng. Theo Điều 14 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 14. Luật áp dụng giải quyết tranh chấp
Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”

11. Thi hành phán quyết trọng tài

Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và ràng buộc các bên. Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết. Nếu bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện, bên được thi hành có thể yêu cầu thi hành theo Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 66. Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài
Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.
Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật này.”

Việc thi hành phán quyết sẽ tuân thủ các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, đảm bảo quyền lợi của các bên được bảo vệ.

Ghi chú:

Bài viết này chỉ dành để tham khảo và không được xem là bản tư vấn pháp lý của HTH & Partners. Nội dung bài viết thể hiện ý kiến riêng của HTH & Partners, nội dung này có thể thay đổi mà không cần thông báo trước.

Các quy định pháp luật được viện dẫn trong bài viết có hiệu lực tại thời điểm công bố bài viết, nhưng có thể đã hết hiệu lực hoặc thay đổi khi bạn đọc. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị bạn tham khảo ý kiến chuyên gia pháp lý trước khi áp dụng.

# Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *