Trốn đóng bảo hiểm xã hội cho NLĐ, doanh nghiệp có thể bị phạt nặng

1. Trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, doanh nghiệp có thể bị phạt nặng

Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn thể người lao động đang làm việc cho doanh nghiệp thuộc diện phải tham gia BHXH, BHTN bắt buộc.

Mức đóng bảo hiểm sẽ căn cứ trên mức lương mà người lao động và doanh nghiệp thoả thuận. Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng các khoản bảo hiểm trên kịp thời và đầy đủ.

Trường hợp doanh nghiệp trốn đóng, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động hoặc đóng không đúng mức có thể bị phạt vi phạm hành chính với mức phạt khá nặng.

2. Mức phạt do trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Mức xử phạt vi phạm hành chính với hành vi trốn đóng BHXH được quy định tại Điều 6 và khoản 6, khoản 7, khoản 9, khoản 10 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Cụ thể, Điều 6 quy định mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân.., mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Cụ thể, khoản 6 quy định phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động không đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khoản 7 quy định phạt tiền 50-75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự…

Ngoài ra, Khoản 9 qui định hình thức xử phạt bổ sung gồm đình chỉ hoạt động đánh giá an toàn, vệ sinh lao động 1-3 tháng đối với tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động khi có hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này.

Còn Khoản 10 quy định biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc, BHTN phải đóng cho cơ quan BHXH đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5, 6, 7 Điều này;

Cùng với đó, buộc người sử dụng lao động nộp khoản tiền lãi bằng 2 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng; 

Nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt vào tài khoản của cơ quan BHXH đối với những hành vi vi phạm quy định tại các khoản 5, 6, 7 Điều này từ 30 ngày trở lên.

Trốn đóng BHXH là vi phạm quy định của pháp luật

Hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc cho người lao động đã vi phạm quy định của pháp luật về BHXH được quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật BHXH 2014.

Cụ thể, điều 17 quy định các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN; chậm đóng tiền BHXH, BHTN.

Điều 122 Luật này cũng có quy định, người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 17 của Luật này từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 2 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; 

Nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan BHXH.
Như vậy, khi doanh nghiệp trốn đóng BHXH từ đủ 30 ngày trở lên thì sẽ phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và phải nộp số tiền lãi bằng 2 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

Ghi chú:

Bài viết này chỉ dành để tham khảo và không được xem là bản tư vấn pháp lý của HTH & Partners. Nội dung bài viết thể hiện ý kiến riêng của HTH & Partners, nội dung này có thể thay đổi mà không cần thông báo trước.

Các quy định pháp luật được viện dẫn trong bài viết có hiệu lực tại thời điểm công bố bài viết, nhưng có thể đã hết hiệu lực hoặc thay đổi khi bạn đọc. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị bạn tham khảo ý kiến chuyên gia pháp lý trước khi áp dụng.

# Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *